Kính mắt xuất hiện khi nào? Có thể bạn chưa biết ?

Kính mắt có từ bao giờ ?


Vào khoảng năm 1000, dụng cụ hỗ trợ mắt đầu tiên được phát minh với tên gọi “viên đá đọc sách”. Đó là một khối cầu thủy tinh, khi dùng người ta đặt nó lên văn bản cần đọc và nó sẽ phóng to các chữ lên. Vien da doc sach Cũng không chắc chắn ai là người đầu tiên phát minh ra kính mắt nhưng nhiều người cho rằng chính Salvino D’Armate người Italia là người đầu tiên phát minh ra chiếc kính mắt có thể đeo được vào năm 1284. Bức tranh vẽ kính mắt đầu tiên là do Tommaso da Modena vẽ năm 1352. Ông vẽ một loạt những bức tranh tường những người đang đọc sách. Một người trong số đó sử dụng một chiếc kính phóng đại trong khi một người khác thì đeo kính đặt trên mũi.



Sang thế kỷ 18, mắt kính lõm dùng cho người cận thị được ra đời. Giáo hoàng Leo X bị cận thị và phải đeo kính khi đi săn. Ông nói rằng chúng giúp ông nhìn còn rõ hơn nhưng người thợ săn bình thường khác. Kính ban đầu được làm bằng thạch anh và mắt kính vẫn gắn chặt với kính, không tháo rời được. Khung kính được làm bằng xương, kim loại hoặc da và thường trông giống như hai mat kinh phóng đại nhỏ ở hai bên với một hình chữ V lộn ngược ở giữa. Kính được đặt cân bằng trên mũi nhưng vấn đề nảy sinh là mũi của mọi người thì có hình dáng và kích thước khác nhau. Nhiều giải pháp khác nhau đã được thử và một trong số đó là dùng ruy băng lụa quấn qua tai và dùng những quả cân nhỏ làm bằng sứ treo vào ruy băng.



Kính Lorgnette, vật trang sức của các quý bà Năm 1730, một chuyên gia nhãn khoa (Edward Scarlett) lần đầu tiên đã thử gắn thêm một bộ phận cứng đặt trên tai. Phát minh này nhanh chóng được phổ biến và đến năm 1752 nhà thiết kế kính mắt James Ayscough giới thiệu chiếc kính với đôi bản lề ở hai bên giúp có thể đeo dễ dàng trên tai. Mắt kính được làm bằng thứ thủy tinh mỏng và nhìn rõ hơn. Ayscough cũng nhận thấy là mắt kính trắng có thể tạo ra ánh sáng phản chiếu gây hại cho mắt. Ông khuyên nên dùng mắt kính màu xanh biển hoặc xanh lá. Kính của Ayscough có thể là những đôi kính râm đầu tiên nhưng chúng vốn dĩ không phải để bảo vệ mắt khỏi ánh nắng mặt trời mà để giải quyết những vấn đề về mắt.


Năm 1780, Benjamin Franklin phát minh ra kính hai tròng. Bực mình với việc phải thay những đôi kính khác nhau để nhìn thấy ở những khoảng cách khác nhau, ông đặt mỗi mắt kính vào một đôi khung. Phát minh quả là rất tuyệt nhưng cũng phải đến cuối thế kỉ 19 nó mới được phổ biến rộng rãi.


Cũng trong thế kỉ 18, kính một mắt ra đời và trở nên phổ biến trong thế kỉ 19 đặc biệt là ở Đức và Nga. Ban đầu nó được các quý ông sử dụng. Sau chiến tranh thế giới I thì nó không còn mốt nữa có lẽ vì nó gắn với hình ảnh quân đội Đức. Ngoài ra còn có kính lorgnette, đôi mắt kính có tay cầm được giới thiệu. Tuy nhiên, loại kính này chủ yếu được dùng như một món đồ trang sức hơn là một dụng cụ hỗ trợ thị giác và cũng chỉ phố biến trong những quý bà thời trang vốn không muốn đeo kính. Năm 1919, Sam Foster thành lập công ty Foster Grant.


Năm 1929, ông đưa ra thị trường đội kinh ram Foster Grants đầu tiên ở Woolworth trên đại lộ của thành phố Atlantic. Đến những năm 1930 thì kính râm đã trở nên phổ biến.


Năm 1929, Edwin Land phát minh kính lọc có khả phân cực ánh sáng, đây là yếu tố chủ yếu để chế tạo mắt kính râm phân cực giúp giảm cường độ ánh sáng chói.

Năm 1932, Land cùng với George Wheelwright III, giáo viên hướng dẫn môn vật lý ở Harvard, cùng thành lập phòng thí nghiệm Land-Wheelwright ở Boston. Cho đến 1936, Land đã thực hiện thí nghiệm với rất nhiều loại chất liệu kính chống nắng ở kính râm và các dụng cụ nhãn quang khác.

Năm 1937, Edwin Land thành lập công ty Polaroid và bắt đầu sử dụng các kính lọc của mình trong kính râm Polaroi, đèn pha ô tô chống chói và nhiếp ảnh lập thể. 


Nguồn : Sưu tầm.